Đức Phật dạy vô ngã, trong khi hạnh nguyện Phổ Hiền lại khuyến khích “xưng tán Như Lai”. Hai điều này có mâu thuẫn không?
Thực ra, Như Lai không cần những lời ca tụng để làm lớn mình. Xưng tán công đức Phật là phương pháp giúp người tu nhận diện điều cao đẹp, chuyển hóa tâm đố kỵ, nuôi dưỡng niềm tin và đánh thức khả năng giác ngộ nơi chính mình.
Nói Đức Phật “từ bỏ cái ngã” là cách diễn đạt dễ hiểu nhưng chưa thật chính xác. Đức Phật không tiêu diệt một bản ngã vốn tồn tại chắc thật. Ngài giác ngộ rằng cái mà chúng ta gọi là “tôi” chỉ do thân thể, cảm giác, nhận thức, tâm hành và ý thức nương nhau tạo thành. Năm uẩn luôn biến đổi, không có một chủ thể bất biến đứng phía sau để sở hữu và điều khiển tất cả.
Khi đã giác ngộ vô ngã, Đức Phật không còn nhu cầu được tâng bốc, tôn vinh hay xác nhận giá trị. Người khen không làm Ngài cao hơn; kẻ chê cũng không khiến phẩm chất giác ngộ suy giảm. Vì vậy, “xưng tán Như Lai” chắc chắn không phải một lời dạy nhằm thỏa mãn bản ngã của Đức Phật.
Trong mười đại nguyện của Bồ-tát Phổ Hiền được trình bày ở phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện thuộc Kinh Hoa nghiêm, “xưng tán Như Lai” là hạnh thứ hai, sau “lễ kính chư Phật”. Người tu được khuyến khích dùng lời nói thanh tịnh để ca ngợi công đức, trí tuệ, lòng từ bi và hạnh nguyện cứu độ chúng sinh của chư Phật. Bản dịch phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện
Xưng tán như vậy không làm lợi cho Như Lai theo nghĩa thế tục, mà trước hết chuyển hóa người đang xưng tán. Tâm con người thường dễ nhìn thấy lỗi của người khác nhưng khó nhận ra điều tốt đẹp nơi họ. Ta có thể dành hàng giờ nói về một sai sót, trong khi lại tiếc một lời ghi nhận chân thành. Thực tập xưng tán giúp tâm rời thói quen soi mói để hướng về những phẩm chất đáng quý.
Pháp tu này còn đối trị lòng đố kỵ và ngã mạn. Khi bản ngã mạnh, ta không dễ thừa nhận người khác giỏi hơn, sống đẹp hơn hoặc có công đức lớn hơn mình. Nếu có khen, đôi khi ta vẫn ngầm so sánh hoặc mong được khen lại. Trước công đức viên mãn của Như Lai, người tu học cách cúi xuống, nhận ra giới hạn của mình và mở lòng trước một lý tưởng cao đẹp.
Tuy nhiên, xưng tán không phải thần tượng hóa Đức Phật như một quyền lực siêu nhiên. Phật tử không chỉ ca ngợi rằng Ngài từ bi, trí tuệ rồi dừng lại ở cảm xúc tôn kính. Lời xưng tán đúng nghĩa phải dẫn tới học theo. Khen lòng từ của Phật thì tập bớt làm tổn thương; tán dương trí tuệ của Ngài thì phải học cách nhìn sự việc bằng chánh kiến; ca ngợi đức vô úy thì tập đối diện sự thật.
Như vậy, xưng tán Như Lai cũng là dựng lên một tấm gương để soi lại chính mình. Mỗi danh hiệu của Đức Phật gợi nhắc một phẩm chất giác ngộ. Khi miệng đọc “Đấng Điều Ngự”, ta tự hỏi mình đã điều phục được bao nhiêu nóng giận. Khi xưng tán “Đấng Thế Gian Giải”, ta nhìn lại mức độ hiểu biết của mình về con người và cuộc đời.
Ở tầng nghĩa rộng hơn, Như Lai không chỉ được nhận diện qua hình tượng một vị Phật trong lịch sử. Tinh thần Hoa nghiêm nhìn thấy khả năng thành Phật nơi tất cả chúng sinh. Vì thế, xưng tán Như Lai còn là học cách nhận ra và nâng đỡ hạt giống giác ngộ ở người đang sống quanh mình. Một lời ghi nhận đúng lúc có thể giúp người khác tin vào phần thiện lành và tiếp tục tiến bộ. Giác Ngộ giới thiệu hạnh nguyện Phổ Hiền
Dẫu vậy, xưng tán phải đi cùng trí tuệ. Ca ngợi quá mức, nói sai sự thật hoặc tâng bốc một cá nhân để cầu lợi không phải hạnh Phổ Hiền. Trong đời sống Phật giáo, nếu biến sự tán thán thành sùng bái con người, ta có thể nuôi lớn bản ngã của cả người khen lẫn người được khen. Tán thán đúng pháp là hướng về công đức chân thật, không che giấu khuyết điểm và không đánh mất khả năng phân biệt đúng sai.
Rốt cùng, người xưng tán, đối tượng được xưng tán và lời xưng tán đều do nhân duyên hình thành, không có tự tính độc lập. Hiểu như vậy, ta vẫn hết lòng tôn kính nhưng không rơi vào chấp trước. Đức Phật không cần lời khen; chính chúng ta cần pháp xưng tán để tâm bớt đố kỵ, kiêu mạn và tiêu cực. Xưng tán Như Lai, sâu xa nhất, là gọi dậy chất liệu Như Lai trong mình và nguyện sống sao cho mỗi ngày tiến gần hơn đến từ bi, trí tuệ, vô ngã.